14/12/2017

8 đặc trưng khác biệt giữa Idol Hàn Quốc và Idol Nhật Bản

Các bạn đang học tiếng Nhật và có niềm đam mê với văn hoá Nhật Bản chắc là không còn quá xa lạ với khái niệm Idol-hay còn gọi là thần tượng đúng không nhỉ. Đúng vậy, ngoài nổi tiếng với việc đoán tính cách người khác qua nhóm máu như bài viết trước mình có nói họ còn có một văn đặc trưng đó là văn hoá thần tượng.
Hôm nay mình sẽ nêu ra 8 đặc trưng giữa Idol Hàn Quốc và Idol Nhật Bản. Chúng mình cũng bắt đầu thôi nào 🔜✌

1. Ở Hàn Quốc trước đây chưa từng có khái niệm "Idol"

Làn sóng Idol du nhập vào Hàn Quốc khoảng những năm 2000, khi đó ngọn lửa này mới thực sự bùng nổ. Trước đây, yếu tố hát hay là điều kiện "không thể thiếu" của nghệ sĩ, vẻ bề ngoài không qúa chú trọng, chỉ cần bạn hát hay, bạn có thể là ca sĩ hoặc nghệ sĩ. Nhưng vào thời điểm này, nhóm nhạc nữ 3 người SED đã debut (ra mắt) vào nửa sau của thập niên 90 của thế kỷ trước. Nhóm nhạc nữ này không hát hay như ca sĩ nhưng với ngoại hình xinh đẹp, có khả năng hát và vũ đạo rất tốt. Kể từ đó khái niệm "Idol-Thần tượng" đã ra đời. 

2. Quan niệm về ngoại hình của Idol Nhật Bản khác với Idol Hàn Quốc 

Đối với Idol Nhật Bản người ta có thể gọi Idol là những người「かわいい」(đáng yêu)「愛らしい」, nhưng với Idol Hàn Quốc thì lại là 「美人」(mỹ nữ),「ハンサム」(đẹp trai),「身長」(chiều cao). Idol Nhật Bản có cá tính riêng biệt, họ có thể có răng khểnh hay mũm mĩm 1 chút, họ có thể không quá cao, nhưng những nét riêng ở ngoại hình lại khiến họ nổi bật và có thể trở thành "best seller".

Còn Hàn Quốc là đất nước chú trọng hình thức, do vậy Idol của họ phải là những người hoàn hảo, xinh đẹp, có chiều cao nổi trội, hàm răng đều thẳng tắp, stype ăn mặc đáng chú ý. Cũng có thể nói rằng họ không có cá tính nhưng đối với phái nữ, họ lại là giấc mơ, là thần tượng của bao thiếu nữ trẻ ^^ 

3. Trào lưu phẫu thuật thẩm mĩ giống Hàn Quốc

Nhắc đến Hàn Quốc, mình nghĩ là có nhiều người phẫu thuật thẩm mĩ. Nhưng đây là điều cơ bản của các idol Hàn Quốc. Trước đây nói ra việc mình đã từng phẫu thuật thẩm mĩ tuyệt đối các Idol sẽ không bao giờ nói ra. Nhưng những năm gần đây, có nhiều Idol công khai việc mình đã từng phẫu thuật thẩm mĩ. Những bức ảnh before/after được công khai. Không vì vậy mà số lượng fan của họ bị giảm đi mà ngược lại, fan lại cảm thấy Idol của mình gần gũi hơn với mình, dám bộc bạch cả những chuyện riêng tư cá nhân như thế này, mọi người cũng đón nhận và có cái nhìn thiện cảm hơn với những Idol phẫu thuật thẩm mĩ. Số lượng fan tăng lên cũng là bởi lí do đó.

4. Độ tuổi của fan 

Không biết có phải do sự đáng yêu của các Idol Nhật Bản mà đội tuổi fan của họ dao động từ 20-50 tuổi 😵 Ngạc nhiên chưa . Mình xin lấy ví dụ như nhóm nhạc AKB48: fan của họ từ các em học sinh tiểu học tới các bà cô ông chú 40-50 tuổi. Còn nhóm nhạc Arashi (嵐)cũng có rất nhiều fan là các "bà cô". 

Mặt khác, ở Hàn Quốc hình mẫu các Idol lý tưởng mang vẻ đẹp hoàn hảo như búp bê lại có lượng fan đa phần là những người trẻ tuổi độc thân từ 20-30 tuổi. Nhiều người trẻ này dư giả tiền bạc🏧 và sẵn sàng mua vé để đến xem buổi concert thần tượng của mình. 

5. Con đường trở thành Idol 

Idol được yêu thích ở Nhật thường xuyên nhận được các câu hỏi đại loại như 「デビューのきっかけ」. Mình nghĩ đa phần là bởi tìm kiếm nhân tài. Nếu họ sở hữa tài năng họ sẽ quyết định debut và thử sức mình ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Dần dần theo thời gian họ sẽ tiến bộ hơn xinh đẹp hơn được yêu thích nhiều hơn và thu về cho mình một lượng fan khủng có độ tuổi trải dài. 

Flow thường thấy ở Hàn Quốc: ngay từ khi còn ở độ tuổi thiếu niên, nhiều bạn trẻ đã đầu quân cho một số công ty giải trí như KM, SM, YJY, họ sẽ tham gia huấn luyện trở thành thực tập sinh để học hát, học nhảy. Đến một lúc thích hợp nào đó, khi cảm thấy các bạn đã có thể bước ra ngoài  công ty sẽ cho các bạn ấy debut. Có thể nói, Idol Hàn Quốc không kiếm được nhiều tiền trước khi ra mắt được như Idol Nhật Bản. 

6. Thế hệ Idol không chỉ sở hửu vẻ đẹp về ngoại hình mà còn hát hay, nhảy đẹp 

Khi bạn nhìn vào bất cứ nhóm nhạc Idol Hàn Quốc nào, bạn chắc chắn sẽ phải trầm trồ ghen tị sao mà hát hay thế, nhảy đẹp thế, phong cách thời gian "sành điệu" thế. Điều đặc biệt là tất cả member từng người từng người một đều xuất sắc như vậy, ngoại hình vô cùng hoàn hảo, động tác vô cùng đẹp mắt. Chắc chắn khoảng thời gian huấn luyện làm thực tập sinh là một khoảng thời gian dài họ đã trải qua vất vả khổ luyện đổ nhiều mồ hôi công sức. 
MV của SNSD 

7. Ở Hàn Quốc cuộc thi tranh tài giữa cái nhóm nhạc nữ rất được yêu thích 

Ở Hàn Quốc, lượng khán giả thường xuyên xem các show truyền hình chiếm tỷ lệ khá cao. Nhất là các show có Idol nam hoặc nữ được nhiều người yêu thích tham gia. Nhờ có những show truyền hình như vậy mà lượng fan và mức đội nổi tiếng của các Idol sẽ được nhiều người biết đến ngày càng phổ biến rộng rãi hơn. 

8. Không chỉ thị trường trong nước mà còn "lấn sân" sang thị trường nước ngoài

Ví dụ rõ ràng nhất đó là nhóm nhạc TVXQ và T-ara. TVXQ đã gặt hái được nhiều thành công ở thị trường Nhật Bản. Còn T-ara rất nổi tiếng ở Trung Quốc. Tất nhiên đối với bất cứ thị trường nào, các Idol cũng phải biết nói và thể hiện các ca khúc của mình bằng ngôn ngữ của nước đó.

MV của TVXQ bằng tiếng Nhật

MV của T-ara bằng tiếng Trung





posted by SeesaaVN at 13:58| ハノイ 🌁| Comment(0) | Văn hoá - Quy tắc ứng xử | このブログの読者になる | 更新情報をチェックする

Sự khác nhau giữa "につれて", "にしたがって", "とともに", "にともなって"

Sau đây là bảng tóm tắt về sự khác nhau trong cách sử dụng của các cấu trúc ngữ pháp này 😃

 
Aにつれて, B
※Với A là động từ từ điển・danh từ

Aにしたがって, B
※Với A là động từ từ điển・danh từ
Aにともなって, B
※Với A là danh từ 


Aとともに, B
※Với A là động từ từ điển・danh từ・tính từ 

A thay đổi ⇒B cũng thay đổi 




Dựa theo A, làm B
Làm A đồng thời làm B 
A là lý do của B 
Vừa A lại vừa B  
Làm B cùng với A (Người và tổ chức)
                      Tham khảo: nihonngokyoushi-naniwanikki.blog

1. A thay đổi ⇒ B cũng thay đổi 

Sự thay đổi của A kéo theo sự thay đổi của B.
Ví dụ:
経済発展が進むにつれて、貧富の差が大きくなります。(Kinh tế càng phát triển thì khoảng cách giàu nghèo càng lớn).
Ta có thể dùng thay thế như sau:
  • 経済発展が進むとともに、貧富の差が大きくなります
  • 経済発展が進むにしたがって、貧富の差が大きくなります
  • 経済発展(の進行)にともなって、貧富の差が大きくなります。(※)
(※)Do "にともなって" chỉ đi cùng với danh từ nên cần phải thay đổi một chút về dạng danh từ.

2. Dựa theo A, làm B 

Nghĩa này chỉ dùng cho "〜にしたがって"
  • 計画にしたがって、案件を展開しています。(Triển khai dự án theo kế hoạch)
  • 調査の結果にしたがって、報告書を書きました。(Viết báo cáo dựa trên kết quả điều tra)
Cấu trúc tương đương với cấu trúc này là : Aにそって、Bする・A通, Bする:
  • 計画にしたがって、案件を展開しています。
  • 計画にそって、案件を展開しています。
  • 計画通り、案件を展開しています。

3. Làm A đồng thời làm B

Chữ Hán của "とともに" là  ”共” (cộng) nên ta cũng có thể hiểu được từ này được dùng với nghĩa là "đồng thời" 
Mình xin đưa ra một ví dụ trong đó mình sử dụng とともに:
  • 日本語を専攻するとともに英語も勉強しています。(Không chỉ học tiếng Nhật làm chuyên ngành mà còn đồng thời học thêm cả tiếng Anh) 
  • 来週は新しい工場の建設を始めるとともに、使わなくなった工場を壊し始めます。(Cùng với việc bắt đầu kiến thiết nhà máy cũ thì cũng bắt đầu phá nhà máy không sử dụng vào tuần sau)
  • 雨が降り出すとともに、雷が鳴り出しました。(Khi mưa bắt đầu rơi cũng là lúc bắt đầu có sấm set)

4. A là lý do của B

Đây là nghĩa mà chỉ có cấu trúc "〜にともなって" thể hiện mà thôi. Chữ Hán của ”〜にともなって” là ”伴” và cũng có cách đọc là "とも" giống như ”共” của "とともに" nên ”〜にともなって” cũng thể hiện ý nghĩa về mối quan hệ thời gian giữa 2 sự việc A và B. A xảy ra "đồng thời" với B. Tuy nhiên, một đặc điểm khác là "〜にともなって" hàm ý chỉ sự việc B xảy ra ngay sau khi A, và A là nguyên nhân dẫn tới B. Ví dụ:
  • 母の転勤にともなって、引っ越しすることになりました。
  • 地震にともなって火災が発生することが多いです。
 ”〜にともなって” không đi kèm với động từ mà chỉ đi với dạng danh từ 

5. Cả A và B

Không chỉ A mà còn B, vừa A và B 
Ví dụ: 
  • 彼女は高名な歌手であるとともに、潜在的な俳優でもある。(Cô ấy vừa là một ca sĩ nổi tiếng, vừa là một diễn viên đầy tiềm năng)
  • ホーチミン主席はベトナム民族の偉大な指導者であるとともに、気高く美しい人格を持つ人でもあります。(Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là một người có nhân cách cao quý)
  • 水仙の花は美くて育てやすいとともに、早春に咲くので、新年を歓迎するために植えられています。(Hoa thuỷ tiên đẹp, dễ trồng lại nở vào đầu xuân nên được trồng để đón năm mới)
A có B thường có nghĩa đẳng lập nhưng cũng có trường hợp có nghĩa nhượng bộ. Ví dụ:
  • 連休はどこへも旅行してなくてちょっと残念であったとともに、休息する時間が多く取れた。 (Được nghỉ dài mà chẳng đi đâu du lịch thì cũng tiếc nhưng bù lại có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn)

6. Làm B cùng với A (Người hoặc tổ chức) 

Khi A là người hay tổ chức nào đó mà không phải là động từ hay danh động từ thì chúng ta phải dùng "とともに".
Lúc này "とともに" có nghĩa tương tự như "一緒に". Ví dụ:
  • 週末は友達とともに、旅行します。(Tuần sau tôi sẽ đi du lịch với bạn bè)
  • 昨日、彼氏とともに、映画を見に行きました。(Tôi đã đi xem phim với người yêu tối qua)
  • 新エネルギーは化石燃料とともに、持続可能な経済発展に重要な役割を果たしてきます。(Năng lượng mới đang đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế bền vững cùng với nhiên liệu hoá thạch) 

Nguồn tham khảo:

💡アルク https://www.alc.co.jp/jpn (Thời gian truy cập 2017/12/15)
💡日本語教師 http://nihonngokyoushi-naniwanikki.blog.jp (Thời gian truy cập 2017/12/12)
Xem thêm
posted by SeesaaVN at 13:07| ハノイ 🌁| Comment(0) | Ngữ pháp | このブログの読者になる | 更新情報をチェックする

12/12/2017

Tại sao khi người khác nói dối, người Nhật lại nói là "嘘つけ”

Khi người Nhật thấy đối phương của mình nói dối thì họ sẽ không nói với đối phương là "うそつき" hay "うそつくな" hay "うそついているね" mà họ sẽ nói là "うそつけ". Thoạt nhìn ai cũng sẽ nghĩ đó là thể sai khiến phải không ạ  

parakeets-2505547_960_720 (1).jpg
                   By: https://pixabay.com

Một cụm từ (câu) có 2 kiểu ngữ nghĩa: một là nghĩa do chính những từ ngữ trong cụm từ đó biểu đạt, hai là nghĩa chỉ đúng trong hoàn cảnh phát ngôn mà thôi. "つけ" trong "うそつけ" là thể mệnh lệnh (sự sai khiến) của động từ "つける" có nghĩa là nếu xét nghĩa dựa vào từ ngữ thì câu này muốn yêu cầu đối phương hãy nói dối???  

Thực ra không phải như vậy, tuỳ vào bối cảnh mà ngữ nghĩa sẽ bị thay đổi. Cụ thể là:
  • Nếu câu này nói trong trường hợp đối phương chưa nói dối thì nó có nghĩa mệnh lệnh (Nhưng chắc chẳng ai ra lệnh cho người khác nói dối các bạn nhỉ 😃 )
  • Nếu câu này được nói ra trong trường hợp đối phương đã nói dối rồi thì nó có ý chỉ ra rằng đối phương không thành thật, đang nói dối kiểu như : "điêu", "mày nói dối", "dối trá"

Nếu các bạn để ý thì trong tiếng Nhật có rất nhiều cụm từ tương tự như vậy 
Ví dụ như "ふざけろよ". Theo như từ điển "日本語表現辞典Weblio辞典" thì:
「ふざけたことをするな」という意味を婉曲的に言った語。禁止や咎め立ての意味合いを込めて命令形で表現するもので、類似した語としては「嘘を言え」「馬鹿を言え」などがある。

Dich: Đây là mt cm từ có nghĩa là "Đừng có dỡn cợt". Nó được to bng hình thc mnh lnh nhưng bao hàm nghĩa cm đoán, hay nhc nh. Mt s t có cách dùng tương t là : "嘘を言え" (Đng có nói di)  hay  "馬鹿を言え" (Đng nói nhng điu ngu ngc)

Một ví dụ nữa mà chúng mình rất hay bắt gặp là "いい加減にしろ". "いい加減" chỉ ai đó làm gì đó quá đáng, không thích hợp, quá mức chịu dựng nhưng khi đi với "しろ" dạng mệnh lệnh của "する" nó không có nghĩa chỉ mệnh lệnh, yêu cầu đối phương tiếp tục nói hay làm hành động quá đáng đó mà lại có nghĩa là:  "đủ rồi", "dừng lại đi"  hay "để tôi yên" các bạn ạ 😃

stop-863665_960_720.jpg

         By:https://pixabay.com

Hay khi bạn về nhà, người ở nhà sẽ chào bạn bằng tiếng Nhật là "おかえりなさい" đúng không ạ? Tại sao lại có "なさい" ở cuối câu nhỉ? "Hãy về đi" ??? Bạn đã về nhà rồi cơ mà. Nghe thật vô lý nhưng thực ra đó đúng là cách chào mừng người thân trở về nhà của người Nhật đó các bạn ạ ✌
Có rất nhiều ý kiến cho rằng, ta không nên phân tách đuôi của các cụm từ này rồi xem xét nó như một yếu tố ngữ pháp mà đơn giản hãy ghi nhớ cả cụm từ đó cùng với bối cảnh sử dụng của chúng. Mình rất đồng ý với quan điểm này vì ngôn ngữ như một dạng mã hoá do cả một dân tộc quy ước tạo ra. Khi bạn học ngôn ngữ của họ tức là bạn phải chấp nhận cả công thức đó, cho dù nó có vẻ hơi phi lý  
Đây chỉ là một trong các ví dụ chứng minh sự kỳ lạ nhưng cũng vô cùng thú vị của tiếng Nhật thôi, còn rất rất nhiều những trường hợp như thế. Hãy cùng chúng mình khám phá nó trong các bài viết tiếp theo nha  

Nguồn tham khảo 

💡 アルク https://www.alc.co.jp/jpn/article/faq/03/113 (Thời gian truy cập 
2017/12/12)
💡 日本語表現辞典 日本語表現辞典Weblio辞典 (Thời gian truy cập 
2017/12/12)

posted by SeesaaVN at 17:31| ハノイ ☔| Comment(0) | Từ vựng | このブログの読者になる | 更新情報をチェックする
×

この広告は180日以上新しい記事の投稿がないブログに表示されております。